Bát Tự – Dụng Thần Là Gì?

Bát Tự – Dụng Thần Là Gì?

I. Tứ trụ là gì – ứng dụng của tứ trụ vào cuộc sống

Tứ trụ xuất phát từ Trung Quốc vào thời Ngũ Đại (907-960) được Từ Cư Dịch tự là Tử Bình phát triển nên người đời sau hay gọi là môn Tử Bình để tưởng nhớ đến công lao của ông.


  – Tứ trụ bao gồm 4 trụ đó là: năm, tháng, ngày và giờ sinh.

Mỗi trụ gồm 2 thành phần là 1 thiên can và 1 địa chi, tổng cộng 4 trụ sẽ có 4 Thiên Can và 4 Địa Chi nên ngoài tên Tứ Trụ thì môn này cũng thường được gọi là Bát Tự (vì có 8 chữ).

Thiên can đại diện cho Thiên (Trời). Địa chi đại diện cho Đất. Can tàng trong địa chi đại diện cho Nhân (con người). Thiên Địa Nhân có đầy đủ trong 1 lá số Tử Bình (Tứ Trụ)

Trọng tâm lý luận của Tứ Trụ là Trụ Ngày, chữ ngày viết theo chữ Hán là Nhật (mặt trời), chi phối toàn bộ vận mệnh của một người, do đó nó được gọi là Nhật nguyên, THÂN (là TA), hay MỆNH CHỦ.

Tứ Trụ lấy CAN NGÀY làm trung tâm (gọi là mệnh chủ) , phối với các can trên trụ khác , bất kể là lộ trên can hay tàng trong địa chi, thành 10 thần. Mỗi thần tượng trưng cho người thân, hay việc, hay một lãnh vực nào đó cuả mệnh.

Ðời ngươì chia thành các vận 10 năm (gọi là đại vận – cũng giống như khoa Tử vi), rôì trong mỗi vận lại xét từng năm (còn gọi là lưu niên hay thái tuế), cả hai đều sắp xếp theo can-chi, nên từ đó cũng phối với CAN NGÀY thành 10 thần , an trên đại vận và lưu niên, do đó ta không phải chỉ có 4 mà là 6 trụ (4 trụ + đại vận + lưu niên) để luận giải. Có khi lại còn chia năm ra từng tháng, tuy rằng xuống tới tháng thì ít khi dùng đến, nhưng cũng cùng một nguyên lý ngũ hành sinh khắc chế hoá; nó được dùng trong trường hợp người xin đoán cần lấy những quyết định quan trọng trong một năm nào đó.

Khoa này cũng dùng cát thần và hung sát tương tự trong Tử vi và Bốc phệ (bói Dịch) để giải đoán vận mệnh. Ta chỉ cần 15 thần sát thường dùng là đủ. Cốt tuỷ vẫn là âm dương, ngũ hành sinh khắc chế hoá, còn Thần sát chỉ nên được dùng để bổ túc (phụ hoạ) cho các kết luận khi dự đoán.

Tứ Trụ lý giải mệnh, vận bám sát theo

– Âm dương

– Ngũ hành sinh khắc chế hoá

– Ðịa chi hợp, xung, hình, hại

Các tương tác giữa mệnh cục (tứ trụ), và đại vận, lưu niên – tức vận trình ; vì dùng ngũ hành nên độ chính xác của thời gian ứng nghiệm cao nhất, hơn hẳn các khoa khác.

Tuỳ vào khả năng thiên phú (người có nhiều sao …………) và độ tương hợp giữa người nghiên cứu với bộ môn này, bản lĩnh nắm bắt được các thông tin, trình độ tổng hợp cao hay thấp, toàn diện hay không của người đoán…mà kết luận có thể đúng hay sai, hay hay dở, chứ không cứ là phải hành nghề lâu năm mới giỏi, dù rằng kinh nghiệm cũng rất cần thiết.

Ứng dụng của khoa Tứ trụ :

– Mô tả tính tình, tướng mạo, sự nghiệp, nghề nghiệp, điạ vị xã hội, học hành, tiền bạc , giàu sang, nghèo hèn, cát hung, thọ yểu , hôn nhân, tình duyên, bệnh tật, tai nạn, rủi ro, tử vong, lao tù , v..v.. của một người.

– Vạch ra cuộc đời của một người, từ lúc còn bé thơ, thanh niên, trung niên, đến già, chết;

– Nêu rõ những việc liên quan đến các người thân của y: tổ nghiệp (âm đức tổ tiên), ông bà , cha mẹ, anh chị em, vợ/chồng, con cái;

Ðờì một ngườì cũng vậy, nêú ngũ hành của năm, tháng, ngày, giờ sinh thông qua Can-Chi mất quân bình thì mệnh đó có bệnh, hung nhiêù, cát ít (tai nạn, bệnh tật, rủi ro, chết yểu …). Phương pháp Tứ Trụ giúp ta định được các nguyên nhân, rồi có thể tìm giải pháp cho mệnh (đó là y-mệnh) .

Bằng việc sử dụng Lịch Pháp hay thời gian để ghi lại các vị trí tương đối này.  Lịch Pháp để ghi lại các mốc trong thời điểm mỗi người sinh ra hoặc làm bất kì công việc gì thì đều ghi lại vị trí tương đối này. Bằng việc sử dụng Thiên Can – Địa chi trong việc xét xem tỷ lệ lượng hóa ngũ hành trong Năm tháng ngày giờ sinh của người đó tại thời điểm đó Vượng, Yếu, Suy, Cường, Nhược thế nào?Ta sẽ dự đoán Cát hung Vận mệnh.

Như chúng ta đã biết Tổ Hợp của Tử Vị khoảng 38.000 lá số, Tổ Hợp của Bát Tự là 650.000 lá số tạo ra rất nhiều trường hợp và biến khác nhau. Bởi thế Bát Tự sinh thần sẽ luận đoán chính xác vận mệnh của gia chủ.

Khi con người sinh ra thì quay cùng với Trái Đất. Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ tinh cùng với Nhật Nguyệt (Âm Dương) phối hợp tác động lên bản thân mỗi người. Có người thừa Thổ 1 chút, thừa Kim 1 xíu,v .v. Các dạng lực này sẽ tác động lúc nhiều, lúc ít, lúc thêm, lúc giảm tăng cường vào Bát tự của anh chị thì gọi đó là vận và Lưu Niên. Căn cứ vào Bát tự nguyên thì hầu hết 90% những người sinh ra thì thông thường là Bát tự mất thăng bằng.

ung dung cua bat tu tu tru zenio
ung dung cua bat tu tu tru zenio

Ví dụ: Một người sinh ngày 12/6/2019 chẳng hạn, Năm Kỷ (Thổ) Hợi (Thủy), Tháng Canh (Kim) Ngọ (Hỏa), Ngày Canh (Kim) Thìn (Thổ), giờ Bính (Hỏa) Tuất (Thổ). Thì trong thân thấy rằng là Hỏa, Thổ, Kim thì nhiều mà trong khi đó Mộc thì lại ít. Hơn nữa lại đang rơi vào mùa hè, Tháng Ngọ, Hỏa vượng thì càng trở lên vượng hơn. Cho nên người ta sẽ căn cứ vào lá số này, để lượng hóa thấy thân này Hỏa Vượng quá, nguyên thần lại là Kim, thì Bát tự này là mất thăng bằng.