GARNET ( NGỌC HỒNG LỰU )

Granet (Granat) là một loại khoáng vật có rất nhiều biến thể màu sắc khác nhau trừ màu lam. Tuỳ thuộc vào màu sắc mà giá trị của granat rất thay đổi, trong đó loại có giá trị cao nhất là biến thể màu lục (uvarovit) có giá trị hàng ngàn USD/cts.

ngọc hồng lựu
                                                    ngọc hồng lựu

Tổng quan về Garnet 

Cấu Trúc Tinh Thể

Granat là nhóm khoáng vật silicat (nesosilicat) có công thức chung A3B2(SiO4)3. Vị trí A thường là các cation hóa trị +2 (Ca2+, Mg2+, Fe2+) và vị trí B là các cation hóa trị +3 (Al3+, Fe3+, Cr3+) trong một hệ bát diện/tứ diện với [SiO4]4− chiếm các đỉnh của tứ diện. Granat thường được tìm thấy ở dạng hình đơn là hình 12 mặt, nhưng cũng hay được tìm thấy ở dạng hình 24 mặt thang. Chúng kết tinh trong hệ lập phương, có ba trục với độ dài đơn vị bằng nhau và vuông góc với nhau. Granat không thể hiện cát khai, vì thế khi chúng đứt gãy dưới ứng lực, các miếng không đều và sắc nhọn được tạo ra.

Thành Phần Hóa Học Của Granat

Nguồn Gốc Và Phân Bố

  1. Nguồn Gốc

Granat được thành tạo chủ yếu trong các đới biến chất tiếp xúc trao đổi phát sinh do tác dụng của các macma axit với đá cacbonat ở điều kiện nhiệt độ tương đối cao. Thường thấy những khối đặc xít hoặc là thành phần của các skarn với các khoáng vật silicat vôi như diopxit, epidot, hedenbecgit… Ngoài ta còn gặp granat trong granit, pecmatit, kimbeclit.

  • Pyrop: Thường liên quan tới các đá siêu bazơ như peridotit, kimbeclit và các sản phẩm biến đổi của chúng.
  • Spexactin: Thường gặp trong các đá granit pecmatit hoặc các đá giàu silic.
  • Andradit: Thường được hình thành trong các đới biến chất tiếp xúc đặc biệt là tiếp xúc giữa macma bazơ giàu Fe với đá hoa.
  • Grozule: Đặc trưng cho cả quá trình biến chất nhiệt và biến chất khu vực.
  • Anmandin: Thường là sản phẩm của quá trình biến chất nhiệt.
  • Uvarovit: Thường gặp trong các thân skarn.

       2. Phân Bố

  • Ở Việt Nam grozule thấy trong đá vôi kết tinh ở Thanh Mọi (Lạng Sơn), Trọng Lộc (Quảng Nam).
  • Andradit gặp nhiều trong đá vôi tiếp xúc ở Tĩnh Túc, Thái Nguyên, Thanh Mọi, Phong Thổ.
  • Anmandin thấy ở Lào Cai, trong pecmatit và trong phiến kết tinh ở Yên Bái.
  • Granat có giá trị trang sức trên thế giới chủ yếu được khai thác ở Sri Lanka, Ấn Độ, Madagasca, Brazil, Alaska và Băng đảo.
  • Pyrop thường gặp trong các ống nổ của vùng Kimbecley, De Beers, ít hơn ta gặp ở Arizona, New Mexico, Zimbabwe, Braxin, úc…
  • Spexactin gặp ở Sri Lanka, Madagasca, Braxin và một lượng nhỏ từ San Diego, California.
  • Demantoit và Uvarovit được phát hiện ở vùng núi Ural và một số khu vực khác ở Hymalaya.

Các Dạng Granat

  • Anmandin: anmandin có màu đỏ rất dễ nhầm với ruby kể cả ruby tổng hợp và đôi khi cũng nhầm với thuỷ tinh màu đỏ. Tuy nhiên có thể dễ dàng phân biệt với ruby bởi tính dị hướng, bên cạnh đó ruby thường phát huỳnh quang mạnh hơn dưới tia cực tím sóng dài còn anmandin thì không. Phân biệt với rubelit bởi tính lưỡng chiết và đa sắc.
  • Pyrop : Người ta rất dễ nhầm pyrop với spinel bởi chúng có màu sắc và một số thuộc tính gần trùng nhau. Dấu hiệu để phân biệt có ý nghĩa nhất là giá trị chiết suất của chúng. Pyrop thường có chiết suất > 1,73 trong khi đó spinel có giá trị chiết suất < 1,72. Dấu hiệu thứ hai có thể căn cứ vào là đặc điểm bao thể. Trong spinel thường chứa các bao thể dạng 8 mặt tự hình trong khi đó pyrop thường chứa các bao thể dạng hạt tòn cạnh có độ nổi thấp và các bao thể dạng kim.
  • Spessartine: Với giá trị chiết suất cao spessartine rất dễ nhầm với zircon và một số loại granat khác, tuy nhiên có thể căn cứ vào tính đẳng, dị hướng để phân biệt với zircon, căn cứ vào giá trị chiết suất, tỷ trọng, phổ hấp thụ để phân biệt với các loại granat khác. Giá trị của spessartine cao hơn pyrop và anmandin chút ít và ngang với giá của rhodolit. Không được làm giả và cũng không được sản xuất trong công nghiệp.
  • Grozule : Dễ nhầm với topaz tuy nhiên topaz có giá trị chiết suất thấp hơn, cũng có thể căn cứ vào đặc điểm bao thể để phân biệt chúng, grozule thường chứa các bao thể dạng lăng trụ tròn cạnh còn topaz thì hầu như không thấy. Dựa vào ánh để phân biệt với citrine, phân biệt với zircon bởi tính lưỡng chiết.
  • Andradit : Loại demantoit có ánh và giá trị lưỡng chiết gần đạt tới giá trị của kim cương. Tuy nhiên dấu hiệu đặc trưng của demantoit là những bao thể dạng sợi sắp xếp toả tia bên trong viên đá.
  • Demantoit phân biệt với zircon màu lục, peridot, emerald, tourmaline màu lục bởi tính đẳng hướng, dị hướng quang học.
  • Rhodolit : Rhodolit rất dễ nhầm với ruby nhưng phân biệt chúng bởi tính phát quang và tính đa sắc, cũng phân biệt với rubelit bởi tính đa sắc và ánh. Phân biệt với spinel bởi các tính chất vật lý và đặc tính phát quang. Rhodolit có chiết suất 1,755 – 1,765 và tỷ trọng 3,74 – 3,94 cao hơn spinel.