Đá Serpentine

Đá Serpentine

Serpentine luôn là khoáng vật thứ sinh, do biến đổi của các khoáng vật Silicat giàu Magnesi, gặp cả trong đá magma và đá biến chất. Trong họ nhà ngọc, Ngọc Jadeite là loại ngọc có đẳng cấp nhất, sau đó là Ngọc Nephrite và Ngọc Serpentine – loại ngọc này dễ tìm và không quý bằng ngọc Jadeite). Và từ ngàn xưa, ngọc đã được mọi người ưa chuộng.

Serpentin là tên gọi của một nhóm khoáng vật tạo đá phổ biến. Nhóm này gồm các khoáng vật silicat lớp của Sắt Magie Hydroxit ((Mg,Fe)3Si2O5[OH]4); chúng có thể chứa một lượng nhỏ các nguyên tố khác như Crom, Mangan, Coban và Nickel. Trong khoáng vật học và địa chất học, nhóm Serpentine có thể gồm 20 dạng biến thể. Tùy vào các nguyên tố phụ tham gia vào trong cấu trúc, các biến thể này không phải lúc nào cũng dễ nhận dạng. Có 3 dạng đồng hình quan trọng của Serpentin là Antigorite, Clinochrysotile, Lizardite và 2 dạng đồng hình khác là Orthochrysotile, Parachrysotile.

1. Phân Bổ Đá Serpentine Tự Nhiên:

Đá Serpentine tự nhiên trên thế giới được khai thác tại một số quốc gia như Afghanistan, Anh Quốc, Hy Lạp, Nga, Pháp, Hàn Quốc, Áo, Ấn Độ, Myanmar, New Zealand, Hoa Kỳ… Đây đều là những mỏ khai thác đá nổi tiếng trên thế giới với trữ lượng tương đối và chất lượng đá hàng đầu. Đặc biệt, đá Serpentine nội địa Việt Nam cũng được tìm thấy và khai thác ở vùng đồi núi Yên Bái với đá Serpentine màu xanh vàng, xanh nhạt. Ngoài ra, tại Việt Nam cũng có một nơi khác xuất hiện loại đá phong thủy này. Đó chính là những mỏ khai thác đá tại tỉnh Gia Lai với đá phong thủy Serpentine tự nhiên màu xanh trắng cũng như loại đá phong thủy này được khai thác tại Đắk Lắk với màu xanh lục đậm.

2. Đặc Tính Vật Lý:

Màu sắc có thể là màu xanh ô liu, vàng hoặc vàng, nâu hoặc đen.

Độ bóng có thể là nhờn, sáp hoặc mượt.

Tinh thể trong suốt trong suốt và khối lượng không rõ ràng.

Hệ thống tinh thể là đa dạng, xem ở trên.

Đặc tính tinh thể: không bao giờ có dạng tinh thể lớn, thường là khối lượng nhỏ hoặc các sợi. Các gân của serpentine mạnh có thể được tìm thấy bên trong serpentine to lớn hoặc các loại đá khác.

Cắt khai (cleavage) của các loại crysotile không có, trong lizardite và antigorite có cắt khai tốt theo một hướng.

Vết vỡ (fracture) có hình con trùng conchoidal (vỡ theo mặt nhẵn và cong như là miếng kính vỡ) trong khoáng vật antigorite, lizardite và có dạng sợi (splintery) trong khoáng vật crysotiles.

Độ cứng từ 3 đến 4,5

Tỉ trọng khoảng từ 2,2 – 2,6

3. Đặc tính hóa học

Công thức hóa học và hệ tinh thể của các khoáng vật này như sau:

Antigorite; (Mg,Fe)3Si2O5(OH)4; đơn tà (monoclinic)

Clinochrysotile (còn gọi là chrysotile); Mg3Si2O5(OH)4; đơn tà (monoclinic).

Lizardite; Mg3Si2O5(OH)4; tam tà (trigonal) và lục phương (hexagonal). Orthochrysotile;

Mg3Si2O5(OH)4; trực thoi (orthorhombic).

Parachrysotile; (Mg,Fe)3Si2O5(OH)4; trực thoi (orthorhombic).

Sự khác biệt của các khoáng vật là nhỏ và gần như không thể phân biệt được trong các mẫu lấy bằng tay. Tuy nhiên, các khoáng vật chrysotile có nhiều khả năng tạo ra amiăng serpentin, trong khi antigorite và lizardite tạo thành các khối cryptocine tinh thể đôi khi có tính chất lamellar hoặc micaceous. Amiăng đã được sử dụng trong nhiều năm làm vải chồng cháy và trong lót phanh. Mối liên quan của amiăng với ung thư tuy nhiên đã dẫn đến sự phát triển của vật liệu thay thế cho các mục đích này.